BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

Hỗ trợ trực tuyến

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z5387891703871_5f022dd16e053afc4da98aa51ec94bfa.jpg Z5387891698387_09809a80e9b7fd5b7875ace3c4f5e75c.jpg Z5387891688339_cd51dc7e25f09e1404e7d8ebb3566604.jpg Z5387891687978_18205b9aad263ed88fc92d69b9eed298.jpg Z5387891684749_e6942c65d25b76278808b58882ceac91.jpg Z5387891677787_bfe65cb159419d57d153bb9667f4e8ef.jpg Z5387891670011_12bd1bb55d3fae2b5cb0b761a75bc920.jpg Z5451433185285_9dde2aae0b6f844e1fe7a8047d99b4e6.jpg Z5451433180363_b4aea03fdd1eeeaecf2e92dfc05afa75_1.jpg Z5451433179132_53a581227ed19418f28b3c54b201ed03_1.jpg Z5451433178408_3914729b1906c8c54ba3ff5e2aaf9b62.jpg Z5451433177453_ee0bd944c0e47b70d56dc22aa73dcebe_1.jpg Z5451433177239_2ea42a217e62f971436e20ed4d9cbbff_1.jpg Z5451433167027_dfa94985500756d123bdf860a66a23d7.jpg Z5451433165325_8356cab6958a1cb14e5c13d778dcde02.jpg Z5451433167027_dfa94985500756d123bdf860a66a23d7.jpg Z5451433164873_3a2284a76561caad17bd2df2288fec14.jpg TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Screenshot_1309.png Noi_vong_tay_yeu_thuong.png

    GIAI THOẠI LỊCH SỬ VIỆT NAM

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    19/5 - Sinh nhật Bác Hồ và những sự kiện lịch sử

    Cõng Nhau Trong Một Cõi Người - Hoàng Công Danh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 09h:47' 22-03-2024
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Cõng Nhau Trong Một Cõi Người
    Tác giả: Hoàng Công Danh
    Thể loại: Tuyển Tập Truyện Ngắn

    Mục lục

    1.
    2.
    3.
    4.
    5.
    6.
    7.
    8.
    9.
    10.
    11.
    12.
    13.
    14.
    15.
    16.
    17.
    18.
    19.
    20.
    21.
    22.
    23.

    Cõng nhau trong một cõi người
    Mạ đi chợ về chưa?
    Ai nhặt lá?
    Bóng đổ trên đường đi
    Đường về nẻo thiền
    Tâm bão
    Chờ mặt trời
    Ươm cây giữa vườn đời
    Nhập thất
    Kinh chiều rền tiếng sấm
    Tiếng kêu vẳng từ gốc si
    Đau ở đâu?
    Hồi bát nhã lỗi nhịp
    Nuôi heo trong chùa
    Trò chơi của khói
    Lạc
    Trò chơi nơi cửa thiền
    Níu một bờ tâm
    Luyện nước
    Về đi!
    Xe chưa rời bến
    Nhặt hòn sỏi ở sân chùa
    Đâu chỉ là trò chơi

    N

    Cõng Nhau Trong Một Cõi Người

    ăm tôi mười tuổi, hôm nào tôi cũng lên chùa
    để nghe sư thầy giảng kinh Phật và nói chuyện
    pháp. Mái chùa làng tranh tre nứa lá. Tịnh thất
    của thầy chỉ là một căn phòng nhỏ kế bên
    chánh điện. Thầy mặc chiếc áo tràng màu nâu
    cánh gián, đi một đôi dép lào hai quai mộc mạc. Mỗi lần tôi
    lên chùa, thầy thắp một tuần nhang, cử một hồi chuông, tôi
    quỳ vái ba lần. Sau đó hai thầy trò vào phía trong tịnh thất,
    ngồi xếp bằng, đối diện nhau.
    Tôi nhớ nhất một câu chuyện thầy kể thế này. Thuở xưa có
    hai vị sư đi hành lễ về. Đến một bờ suối thì hai sư gặp một
    cô gái đang khóc. Tại vì nhà cô ở bên kia suối, hồi sáng cô
    đi thì nước cạn, nhưng giờ quay trở về thì nước dâng cao
    quá nên không lội qua suối được. Vị sư già liền cõng cô gái
    qua suối rồi cùng với người đồng tu đi về. Khi về tới cổng
    chùa, vị sư trẻ liền nói với vị sư già: – Này sư huynh, trước
    lúc đi hành lễ, hai chúng ta đã hứa với nhau là không chạm
    vào da thịt đàn bà, sao lúc nãy huynh lại cõng cô gái ấy? Vị
    sư già trả lời: – Ta đã bỏ cô gái ấy lại ở bên suối rồi thế mà
    đệ vẫn còn cõng cô ấy từ nãy đến giờ hay sao?
    *
    Gần chùa làng tôi có chị Gái, ba mươi tuổi vẫn chưa chồng.
    Chị không được đẹp cho lắm! Chị làm nghề cắt cỏ thuê cho
    một nhà nuôi trâu bò trong làng. Hằng ngày, chị đều đến
    cắt cỏ quanh nương chùa. Tôi ngồi trong tịnh thất nghe

    pháp, thi thoảng hương cỏ phả vào một mùi thơm man
    mác.
    Một hôm, cỡ mười giờ đêm rồi, ở nhà thấy chan chán, tôi đi
    lên chùa xin thầy kể chuyện cho nghe. Hình như hôm nay
    thầy đi nằm sớm, ngọn đèn trong tịnh thất đã tắt rồi. Tôi
    đứng ngoài cửa chùa, nghĩ bụng chắc thầy mệt, thôi đừng
    làm phiền nữa. Bỗng dưng nghe có tiếng sột soạt phía bụi
    cây sau lưng chùa. Tôi chậm rãi đi đến, nép vào gốc cây
    chứa, giương mắt nhìn xem. Trời ơi!
    Sư thầy đưa tay lần cởi từng chiếc cúc trên áo của chị. Đêm
    nay là lần đầu tiên trong đời thầy không lần tràng hạt niệm
    kinh, thay vào đó là lần cởi cúc áo một người phụ nữ.
    Những hạt cúc áo đã đổi vị trí cho chuỗi hạt cườm. Tôi
    hoảng hốt quay mặt đi, không dám nhìn bởi không muốn tin
    vào chuyện đang xảy ra. Đây là sư thầy của mình ư? Người
    đã dạy cho mình bao nhiêu kinh kệ, bao nhiêu câu chuyện
    đạo pháp. Mình còn nhớ rõ thầy đã dạy rằng tu sĩ thì không
    có quan hệ xác thịt với nữ giới kia mà! Tất cả như đổ sụp,
    hình tượng thầy. Tôi nghe được tiếng của chị và sư thầy.
    – Nhanh lên thầy ơi!
    – Thầy làm thế này là mắc tội với Phật, là phạm giới con ơi.
    – Thầy làm phước giúp con đi. Con chỉ muốn kiếm một đứa
    con để nuôi. Thầy về già còn có Phật để nương tựa. Chớ con
    biết lấy ai mà cậy nhờ đây? Sao đàn bà chúng con khổ thế
    này thầy ơi!

    *

    Kể từ hôm đó tôi không lên chùa nữa. Tôi thề rằng sẽ không
    bao giờ gặp thầy nữa. Sư thầy, trong tôi đã không còn là
    một vị tu sĩ đạt đạo mà là một người quá ư tầm thường.
    Mười tuổi, tôi như một đứa con nít tự nắn đất sét thành
    tượng để chơi. Và khi bức tượng ấy bị bể rồi thì mãi mãi sẽ
    không bao giờ tôi giữ nó làm gì nữa.
    Chín tháng sau, chị sinh con. Chuyện không cần tôi kể,
    người làng cũng biết ai là cha đứa bé rồi. Sư thầy viên tịch
    sau mười hôm chị sinh con. Buồn quá mà chết? Hay vui quá
    mà chết? Nhục quá mà chết? Hay ân hận không biết làm
    sao chuộc gỡ đành phải chết? Chừng nào loài người chưa
    giải quyết được những thắc thỏm này, chưa dám vượt qua
    chướng ngại của miệng lưỡi, thì chừng đó con người sống
    không thanh thản. Chết là giải pháp cuối cùng và khả quan
    hơn cả để không phải lắng nghe hồi chuông báo tử điểm
    từng ngày.
    *
    Câu chuyện này có thật, xảy ra tại một làng quê Quảng Trị,
    mười năm về trước. Nhân vật chị và đứa bé bây giờ vẫn còn
    sống. Thời gian sẽ xóa đi mặc cảm cho mẹ con chị, tôi tin là
    như vậy! Còn sư thầy của tôi, có ai hiểu cho thầy không?
    Viết xong truyện này, tôi chợt nhớ đến câu chuyện sư thầy
    đã kể cho nghe hồi trước. Chao ôi, có phải sư thầy chính là
    vị sư già đã cõng một người con gái qua sông, đặt đó rồi về.
    Còn tôi là vị sư trẻ kia, ích kỷ, hẹp hòi, nông cạn. Chính tôi
    mới là người cõng chị cắt cỏ suốt mười năm qua. Hôm nay
    tôi đặt chị xuống truyện ngắn này, chính thức trút đi một
    gánh nặng để thanh thản.

    N

    Mạ Đi Chợ Về Chưa?

    gười ta bảo tôi là đứa trẻ bướng bỉnh, khó
    nuôi. Chính vì thế mà lúc năm tuổi, tôi được
    ông nội đưa lên chùa Sắc Tứ để sống và cải
    nghiệp. Hơn nữa, nhà nghèo đói suốt nên ông
    nội quyết định cho tôi đi tu. Vào chùa ăn cơm
    Phật! Ở chùa có con chim dòng biết nói tiếng người, nhưng
    chỉ duy nhất một câu: “Mạ đi chợ về chưa?”
    Tôi được cạo trọc đầu, chỉ chừa lại một chòm tóc hệt cái vá
    xúc cơm. Sư thầy nói: “Từ nay con là người nhà chùa, tên
    phàm tục không dùng nữa, thầy đặt cho con tên mới là
    Sanh”. Từ đó mọi người gọi tôi là điệu Sanh.
    Tôi được sư thầy giao nhiệm vụ chăm sóc con chim dòng.
    Nhiệm vụ cũng nhẹ nhàng thôi. Sáng dậy trộn cơm với ớt,
    bỏ vào cái chén sứ đặt sẵn ở trong lồng tre. Chim dòng là
    loài thèm ăn ớt và phải có ớt nó mới sống được. Thi thoảng
    xem nếu cái cốc nước sắp hết thì rót thêm vào.
    Hôm đầu tiên đem thức ăn ra vườn, vừa đưa tay sớt cơm
    vào chén thì tôi nghe có tiếng người nói: “Mạ đi chợ về
    chưa?” Hóa ra đó là tiếng của con chim dòng. Sư thầy bước
    tới và hỏi tôi: “Con nhớ mạ không?” Tôi ngúc ngắc đầu:
    “Không!” Thầy mỉm cười độ lượng: “Con đúng là đứa trẻ
    bướng bỉnh. Khi mô con nhớ mạ thì thầy cho con về nhà,
    nghe”.
    Tôi không nhớ mạ, không nhớ ai cả; tôi không thích về nhà.
    Ở chùa thế này thích hơn. Ở chùa có vườn rộng, nhiều cây

    cối cho tôi leo trèo. Có tiếng gõ mõ, tiếng chuông và tiếng
    tụng kinh hằng ngày chứ không buồn tẻ như ở nhà. Ở chùa
    có cơm ăn no chứ không đói hoải đói hoài như ở nhà. Và
    hơn hết, ở chùa có con chim dòng biết nói tiếng người khiến
    tôi thích thú.
    Một tháng ở chùa, tôi trở nên thân thiết với con chim dòng
    và nó cũng rất mến tôi. Dường như tôi không còn nhớ gì về
    những người thân ruột thịt ở làng.
    Hai tháng sau, ông nội lên thăm. Tôi dửng dưng như gặp
    người xa lạ.
    Ba tháng sau, mạ tôi đùm lên một túi mãng cầu xiêm - thứ
    quả này hồi còn ở nhà tôi rất thích. Thế nhưng khi mạ đưa
    túi quà thì tôi không thèm lấy, tôi chạy ra vườn chơi với con
    chim dòng. Lát sau mạ cũng ra vườn. Mạ ôm tôi và khóc rất
    nhiều. Tôi đẩy mạ ra rồi vùng chạy. Tôi ghét nước mắt,
    không thích nhìn người ta khóc. Tôi lẻn vào một bụi cây và
    trốn ở đó. Cho đến khi mạ rời chùa tôi mới chạy ra.
    Sau đó có vài lần mạ lên chùa, khi thì mang theo mấy trái
    ổi, lúc lại vài trái chuối. Mạ nói: “Ở nhà không có chi cả, chỉ
    có mấy trái ni mạ hái đem lên cho con”. Những thứ hoa quả
    này ở chùa không thiếu, người ta mang đến dâng Phật hằng
    ngày. Vì thế mà tôi chẳng thèm nhận quà của mạ.
    Con chim dòng vẫn chỉ nói được một câu duy nhất: “Mạ đi
    chợ về chưa?” Mỗi lần nghe tiếng của nó, tôi thấy ngồ ngộ
    và vui hơn. Năm tuổi, sự thú vị lấn át những cảm xúc thiêng
    liêng.
    Ở chùa một năm. Có bữa sư thầy hỏi tôi: “Con nghe chim
    dòng nói hoài mà vẫn không nhớ mạ à?” Tôi trả lời:

    “Không”.
    Một hôm, ông nội lên chùa và nói điều gì đó với sư thầy, tôi
    đứng ngoài cửa lén nhìn vào và thấy hai người có vẻ trầm
    ngâm. Lát sau, sư thầy đem cái túi vải màu lam đựng áo
    quần của tôi, một túi trái cây và một bó nhang.
    “Điệu Sanh mô. Ra đây với thầy, nhanh con!”
    Tôi chạy ra đứng trước mặt sư thầy và ông nội. Sư thầy xoa
    đầu tôi rồi nhỏ nhẹ: “Điệu Sanh, nghe thầy nói đây. Mạ con
    chết rồi! Con về nhà với ông nội nghe”.
    Tôi trố mắt ra nhìn. Chết là gì? Là nhắm mắt như ngủ chứ
    gì. Tôi ngúc ngắc không chịu nghe lời thầy. Tôi chạy đi trốn,
    lần này tôi băng ra khỏi chùa và dốc sức ra mà chạy. Tôi sợ
    bị bắt về nhà lắm! Hết sức, tôi nằm lịm đi giữa một bãi
    trồng bắp ven sông Thạch Hãn.
    Tỉnh dậy, tôi thấy mình đã nằm trong chùa. Sư thầy vẻ mặt
    lo lắng và một chút buồn. Sau khi ăn ba bát cơm, tôi cảm
    thấy khỏe trở lại. Tôi chạy ra vườn. Con chim dòng gặp tôi,
    mừng rỡ, nó chào tôi bằng một câu nói quen thuộc: “Mạ đi
    chợ về chưa?” Tôi cũng mỉm cười chào nó. Mới có một hôm
    mà tôi nhớ con chim dòng kinh khủng. Các sư huynh ở chùa
    đi qua nhìn tôi với ánh mắt hơi khang khác (sau này tôi
    biết, đó là những ánh mắt tràn đầy thương cảm và chia sẻ).
    *
    Tôi ở chùa thêm ba năm nữa, lúc đó tôi tám tuổi. Sau trận
    bão, cái lồng chim đã bị đánh văng xuống đất và tuột một
    vài nan tre. Con chim dòng đã bay đi rồi. Tôi không khóc
    nhưng buồn lắm. Lần đầu tiên trong đời tôi biết đến cảm

    giác buồn bã của sự mất mát. Ôi, con chim dòng thân thuộc
    của tôi đã bay mất rồi.
    Tôi thành hụt hẫng, không có gì ở chùa vui nữa. Vườn tược,
    tiếng chuông mõ đã không còn gây cho tôi hứng thú. Một
    hôm, ông nội lên chùa. Sư thầy hỏi tôi: “Điệu Sanh, con về
    với ông nội nghe”. “Dạ”. Tôi đồng ý về nhà. Không phải vì
    nhớ nhà mà vì con chim dòng đã bay đi, ở chùa không còn
    trò vui.
    Về nhà, quang cảnh vẫn thế. Nhưng hình như hơi thiêu
    thiếu một điều gì đó mà tôi không biết rõ. Tôi được đi học ở
    trường làng. Tôi có những đứa bạn ở bên hàng xóm cùng
    chơi trò. Bà con lối xóm thương tôi, có gì ngon cũng đem
    sang cho. Tôi nhận ra cái mình khác so với bạn bè, đó là tôi
    không còn có mạ trên đời nữa.
    Tôi thui thủi đi học một mình, rồi lại thui thủi về nhà một
    mình. Tôi không buồn, chỉ thấy thiêu thiếu một điều gì đó
    mà thôi.
    Hôm đó, khi lũ trẻ chúng tôi đang chơi thì thấy mạ của mấy
    đứa bạn gánh triêng đi chợ về. Mấy đứa chạy ùa ra níu lấy
    tao gióng lục quà. Tôi lẳng lặng quay về nhà. Tôi vẫn không
    buồn, chỉ thấy thiêu thiếu một điều gì đó mà thôi.
    Vừa vào tới ngõ thì thật bất ngờ, tôi gặp lại con chim dòng
    đang đậu trên cây vú sữa. Tôi chưa kịp mừng thì nó nhanh
    nhảu cất câu nói quen thuộc để chào tôi: “Mạ đi chợ về
    chưa?”
    Và lần đầu tiên trong đời, tôi khóc.

    S

    Ai Nhặt Lá?

    ư thầy đang ngồi trong thư phòng soạn lời cho
    buổi pháp thoại sắp tới thì đột nhiên điệu Sanh
    chạy vào. Vẻ gấp gáp, điệu Sanh túm lấy hông
    áo thầy và giục: “Thầy nhanh ra coi!” Dù chưa
    rõ chuyện gì, nhưng sư thầy luôn chiều theo ý
    của điệu Sanh.
    Thầy bước đến thềm cửa, nhìn ra chỗ gốc cây si ở trước sân
    chùa, thấy một nam một nữ đang ngồi ở ghế đá, tựa vai
    vào nhau. Điệu Sanh nói với vẻ tiếc nuối: “Thầy ra sớm chút
    nữa là hay rồi!”
    Từ hôm đó sư thầy phạt điệu Sanh bằng cách phải nhặt lá si
    ở sân chùa. Trước nay, sân chùa mỗi ngày chỉ quét một lần
    vào sáng sớm, nhưng bây giờ thầy nhủ hễ lá nào rơi xuống
    thì điệu Sanh phải nhặt lên, cho vào chiếc giỏ mây mang
    theo bên mình. Điệu Sanh khoác giỏ vào, lâu lâu nếu trời
    đứng gió, lá không rụng thì điệu ngửa mặt lên kêu: “Thổi đi
    gió ơi cho tôi lượm lá!” Có vẻ điệu Sanh thích thú với nhiệm
    vụ mà sư thầy gọi là “công án thiền – nhặt lá rụng trong
    tâm”. Điệu Sanh hỏi: “Thầy ơi! Có phải nhặt lá là để các cô
    các chú ngại con, không dám tới đây tựa vai nhau nữa?”
    Thầy mỉm cười, không trả lời mà chỉ nhủ điệu Sanh: “Con
    cứ nhặt đi, bao giờ con thấy sạch rồi thì sẽ rõ thôi”. Điệu
    Sanh ngơ ngác nhủ thầm: “Cây rậm tán thế biết đến khi
    nào mới rụng hết lá si được?”
    *

    Ngôi chùa này nhỏ thôi, chỉ có sư thầy và mấy đệ tử, nhưng
    khách đến viếng không phải ít. Một hôm, có nữ thí chủ độ
    bốn mươi tuổi vào thăm chùa. Trông chị có vẻ khá giả, ăn
    mặc đẹp, đeo dây chuyền vàng, mặt thoa phấn trát son
    thơm phức. Sư thầy rót trà tiếp khách, như thường lệ mỗi
    lần có người đến chùa. Đối với thầy, mọi người đều đáng
    kính như nhau, vào cửa Phật, sang hèn đều là hư ảo mà
    thôi. Ngó qua dung mạo, thầy biết nữ thí chủ có nỗi khổ
    tâm. Mà thật ra ai cũng mang nỗi khổ tâm cả, lắm người
    đến đây lúc đầu giấu giếm, cứ bảo hạnh phúc bình an,
    nhưng hồi sau thấy thầy gần gũi nên dần dần họ bộc bạch
    mong được hóa giải giúp.
    Thầy nghiêng vòi ấm cho nước vào chén. “Uống đi chị! Trà
    này ướp hương sen từ tối qua”. Nữ thí chủ cầm tách trà,
    nhấp môi, khen trà thơm rồi hỏi thầy cách ướp trà. Thầy nói
    sau nương chùa có hồ sen, ban đêm thả vào nhụy đóa một
    ít trà sao. Sương suốt đêm thấm vào trà và quyện lấy
    hương sen. Sáng ra khẽ tay hứng nhúm trà đó đem cho vào
    ấm. Hoa cũng như người, vẻ ngoài dẫu thanh cao hay hèn
    mạt thì trong lòng vẫn có hương thơm, chỉ cần khéo một
    chút là ta nhận được niềm vui từ lòng nhau.
    Thầy tiếp khách tự nhiên như thế, không cần phải hỏi han
    tên tuổi gia cảnh hay nỗi niềm. Cứ để cho khách tự mở lòng
    mình. Buổi đầu đến chùa, chị cũng không nói gì nhiều, bảo
    chỉ đến thăm viếng cho biết thôi. Khi sư thầy tiễn chị ra
    sân, trông thấy điệu Sanh chạy tới chạy lui giỡn lá, chị quay
    sang: “Chú tiểu này ngộ quá, thầy ha?” Nói xong, chợt chị
    chạnh buồn, vái tay chào thầy rồi đi ngay.

    Qua vài lần tiếp xúc, thầy cũng được biết hoàn cảnh của nữ
    thí chủ. Chị đã từng có chồng nhưng không sanh được con
    nên đồng ý ly dị, anh đi lấy người khác để kiếm con. Từ đó
    chị ở một mình, bán vải ở chợ. Thu nhập cũng không đến
    nỗi nào nhưng chị hay buồn rầu, nhất là mỗi lúc thấy người
    ta dắt con vào quầy sắm vải. Những khi ấy chị thường
    không lấy tiền vải, chị bảo chỉ cần thấy trẻ con là vui lắm
    rồi. Thấy trẻ con, chị đều coi như đó là con mình.
    Thỉnh thoảng thầy vẫn gặp những người có hoàn cảnh như
    chị đến chùa. Có người muốn vào chùa xin bế trẻ con về
    nuôi, ấy là những đứa trẻ từ khi còn nhỏ bị bỏ rơi trước
    cổng chùa. Trường hợp này thầy cũng đã gặp vài lần. Có
    người lại muốn vào chùa xuống tóc đi tu luôn, những khi ấy
    thầy thường tìm cách khuyên giải, chuyển hóa. Nếu họ vẫn
    nằng nặc đòi tu thì thầy cho phép ở lại trong chùa nhưng
    bảo họ khoan xuống tóc. Cửa từ bi luôn rộng mở nên không
    cần vội vàng.
    Tuy nhiên, nữ thí chủ này lạ lắm, chị đến đây không phải vì
    hai nhẽ trên. Cứ ngày rằm hay mùng một hằng tháng chị lại
    đến chùa, đôi khi ở chơi suốt buổi. Có bữa chị nói rằng thầy
    tuy không gia đình nhưng lại có rất nhiều con. Những chú
    tiểu, rồi các thí chủ đều xưng con với thầy. Còn chị, chị đã
    từng lập gia đình mà lại chẳng có con. Rồi chị cười, méo
    xệch.
    Khách đến viếng chùa thấy chị hay lui tới cũng sinh dị nghị.
    Một người đàn bà có nhan sắc, lụa là son phấn mà đi một
    mình là chắc có nhẽ gì rồi? Bụng dạ người đời không xấu,
    nhưng trông thế ít nhiều người ta cũng thoáng nghi ngờ chị
    vướng tơ lòng với sư thầy.

    Tháng trước chị đến chùa, vẻ buồn thảm hơn mọi khi. Thầy
    coi bộ chị muốn khóc lắm rồi, nếu vậy thì nên đưa chị ra
    ngoài cho thoáng, ngồi trong chùa lại quấy quá cửa thiền.
    Thế là thầy mời chị ra ngồi ở ghế đá dưới cây si, chỗ thầy
    từng thấy đôi trai gái hôm bữa. Sư thầy vẫn chưa biết chị
    cần gì, chị không cần xin con nuôi, cũng không muốn đi tu.
    Tự dưng chị chảy nước mắt, tựa đầu lên vai thầy. “Đôi khi
    con cũng muốn có một bờ vai để tựa lắm, thầy ơi!” Sư thầy
    vẫn cứ ngồi yên như hóa tượng.
    Vài lần sau chị đến chùa, lại xin thầy cho tựa đầu vào vai
    một lúc. Chỉ thế thôi, không hề ngợi nghĩ đến cảm giác trần
    tục. Đơn giản là chị muốn được nhắm mắt để trí óc yên tĩnh
    trên một bờ vai chân chính.
    Từ dạo đó khách đến chùa vãn đi trông thấy. Lại nghe
    phong thanh chuyện quý đạo hữu đề nghị giáo hội mời sư
    thầy khác về làm trụ trì. Mấy đệ tử trong chùa ngó thấy
    cảnh này đâm ra không còn tin tưởng thầy như trước, họ
    xin thầy cho đi chùa khác tu. Thầy đồng ý, tự nhủ với lòng
    mình điều tâm niệm thứ mười của nhà Phật: oan ức không
    cần bày tỏ.
    Tuy đã tu lâu rồi, lòng thầy như đã an lắm rồi, nhưng nhìn
    từng đệ tử khoác túi vải rời chùa, thầy cũng chạnh buồn
    chút chút. “Các con của ta cứ bỏ mà đi. Biết đâu đến một
    lúc ta lại thành không con, như nữ thí chủ ấy. Đó là lẽ vô
    thường chăng? Sắc sắc không không”. Riêng điệu Sanh vẫn
    ở lại với thầy, vì điệu ấy nhỏ tuổi nhất, còn vô tư lắm. Điệu
    Sanh chưa biết những chuyện phải trái trong cõi người. Hay
    ngược lại, chính điệu Sanh mới là người hiểu rõ nhất?

    Thầy đang đứng trước thềm chùa vẩn vơ nghĩ ngợi thì điệu
    Sanh chạy tới kéo thầy ra dưới tán si. Điệu trỏ tay xuống
    nền: “Thầy ơi, ngộ quá! Có hai chiếc lá đang tựa vào nhau.
    Gió thổi mà chúng vẫn không hề xê dịch như mấy chiếc lẻ
    đơn kia”.
    Sư thầy xoa đầu điệu Sanh: “Ừ. Khéo quá ha. Bữa nay thầy
    cho phép con thôi nhặt lá”. Điệu Sanh hơi bất ngờ, ngước
    mặt lên hỏi lại: “Thế ai sẽ nhặt hả thầy? Các sư huynh đi cả
    rồi. Có phải thầy sẽ nhặt không?”.
    Ừ. Phải chăng bây giờ đến phiên thầy nhặt lá si? Câu hỏi
    bâng quơ của điệu Sanh khiến thầy giật mình. Im lặng.
    Chợt điệu Sanh nhớ lại chuyện hôm bữa có hai cô chú ngồi
    ở chỗ ghế đá này, điệu reo lên:
    “A! Con biết rồi. Cứ để yên thế cho người ta tựa vai vào
    nhau, khỏi ngần ngại. Phải không thầy?”
    *
    Đêm mưa gió, lá ngoài kia trút nhiều. Điệu Sanh nằm nghĩ
    chắc sáng mai phải dậy sớm cùng thầy quét chùa, rồi ngủ
    thiếp đi. Trong giấc mơ điệu Sanh thấy các sư huynh mang
    tay nải quay lại chùa, quý đạo hữu cũng đến viếng chùa
    đông như mấy bữa. Trước chùa, không có ai nhặt lá mà sân
    sạch, si sạch.

    Bóng Đổ Trên Đường Đi
    Đêm thiếu trăng, sân chùa vắng lặng, tịnh không một bóng
    người. Chỉ có cái bóng đèn móc ở trên mái hiên hắt sáng
    một vùng như chiếc màn phủ chụp lấy khoảnh sân. Từ đầu
    hôm, sư thầy đi thăm nhà một đạo hữu trong vùng đến giờ
    vẫn chưa về.
    Điệu Sanh bước xuống thềm hiên giỡn bóng, trò nghịch này
    có lần sư thầy đã khuyên điệu bỏ đi, đừng có đeo đẳng cái
    ám ảnh con người ta như thế. Nhưng hình như Sanh quên
    mất, lại vốn tính tò mò nên điệu luôn tìm cách khám phá
    những điều bí ẩn mà đôi khi người khác cho là vớ vẩn.
    Từ trong cái quầng sáng ở sân, điệu Sanh cố đưa mắt nhìn
    ra vườn cây, song chẳng thấy một thân cây nào, chỉ tuyền
    một màn đen. Sanh đi thẳng ra vườn, khi đã chìm trong
    bóng tối thì điệu nhìn rõ cả những chiếc lá đang đung đưa
    trên cành, vài nhánh khô gẫy rơi dưới đất nữa. Lạ quá, đứng
    trong chỗ sáng thì không thấy gì, ra chỗ tối lại thấy được?
    Điệu đem thắc thỏm này hỏi ngay khi sư thầy vừa vào đến
    cửa chùa. Sư thầy là một người thông tuệ, ngoài kinh kệ
    văn chương thầy còn giỏi cả kiến thức của các lĩnh vực khoa
    học tự nhiên. Rõ ràng đây là chuyện của ngành vật lý, hiện
    tượng đồng môi trường quang học, thầy biết căn cớ của nó.
    Nhưng nói chuyện vật lý với điệu Sanh chẳng khác nào bắt
    trẻ con mang đá vào đầu, nặng lắm! Hơn nữa, nếu như nhà
    thơ thi vị hóa cuộc sống, nhà văn tô vẽ cuộc đời, thì bậc tu
    hành có thể cảm nhận mọi hiện tượng tự nhiên thông qua
    một thứ lăng kính gọi là nhân sinh quan. Thầy sẽ giải thích

    điều đó với điệu sanh bằng cách vừa dễ hiểu mà lại thấm
    nhuần đạo pháp, trước nay vẫn vậy.
    Hai thầy trò vào ngồi ngay ngắn trong tịnh thất. Buổi học
    của điệu Sanh bắt đầu, người truyền thụ không ai khác
    chính là vị sư khả kính. Sanh đã quên khuấy cái điều lúc
    nãy, quên như kiểu người ta vẫn nói trẻ con ngủ một giấc,
    sáng mai quên hết ấy mà. Nhưng sư thầy lại không nghĩ
    thế, thầy không cho cái sự thắc thỏm của điệu là “đồ trẻ
    con, để ý làm gì”. Sanh lật vài trang sách lấy khí thế cho
    buổi học. Trong lúc đó sư thầy đang sắp sẵn những ý tưởng
    để dạy, cốt sao cho điệu dễ hiểu. Xưa nay, học trò càng nhỏ
    càng khó dạy là vậy.
    - Hôm qua chúng ta đến đoạn thái tử Tất Đạt Đa xin phép
    vua cha cho đi coi tình hình dân chúng rồi, phải không điệu
    Sanh? – Thầy hỏi khẽ một câu cốt là để nhắc lại coi điệu có
    nhớ bài không mà thôi.
    Sanh sắp buồn ngủ, định ngáp vặt một cái thì phải há mồm
    dạ một tiếng rõ to. Sư thầy kể tiếp chuyện về lịch sử đức
    Phật Bổn sư Thích Ca. Sau khi được vua cha cho phép ra
    khỏi cung điện. Dù vua cha đã khuyên đoàn tùy tùng đừng
    để cho thái tử nhìn thấy cảnh cơ cực của dân chúng. Song,
    mọi sự khó qua được đôi mắt tinh anh của chàng hoàng tử
    có vầng trán thông minh ấy. Ra khỏi ánh sáng hoàng cung,
    hòa mình vào cảnh cơ cực của con người và sinh vật, Tất
    Đạt Đa đã nhận ra nỗi khổ thế gian.
    Kể đến đấy, sư thầy dừng lại, úp nhẹ lòng bàn tay vào vai
    điệu Sanh.
    - Cái điều con hỏi lúc nãy, chính là đây. Khi ở nơi ánh sáng,
    ta khó nhận ra được những điều ở trong bóng tối. Như thái

    tử Tất Đạt Đa sống sung sướng trong hoàng cung thì không
    thấy hết nỗi cơ cực của cuộc sống ngoài kia. Chỉ khi ở trong
    cùng hoàn cảnh, con nhớ chưa, chỉ khi ở trong cùng hoàn
    cảnh người ta mới thấy rõ nhau.
    Buổi học kết thúc ở đó. Hình như Sanh chẳng để ý lắm đến
    câu chuyện mà thầy vừa kể, điệu nhíu mắt lại. Sư thầy cũng
    cảm thấy diễn giảng như thế còn trúc trắc khó hiểu và hơi
    xa vời so với một học trò chưa đầy mười tuổi, chi đành cho
    điệu ấy tận mắt chứng kiến.
    Trước khi nghỉ, thầy dặn điệu Sanh sáng mai hãy cùng thầy
    xuống phố. Sanh mừng quá, tan cơn buồn ngủ. Xuống phố
    vui lắm, đông người, nhiều xe cộ, lắm trò thích nhé! Tối đó
    điệu Sanh nằm trơ mắt khá lâu, cảm giác ngóng chờ đến
    sáng để được đi chơi cùng thầy. Trong căn phòng không ánh
    đèn, điệu nhìn thấy biết bao nhiêu thứ, đúng ra là điệu đang
    tưởng tượng ra nhiều điều, xen lẫn vào cả giấc mơ.
    *
    Sáng hôm sau điệu Sanh dậy sớm hơn mọi ngày. Thường
    thì sau khi thầy thỉnh xong hồi chuông điệu mới dậy hẳn.
    Riêng sáng nay, có lẽ do muốn xuống phố nên Sanh bật dậy
    trước khi nghe chuông. Súc miệng xong, điệu bước vào
    chánh điện, quỳ đảnh lễ cùng thầy. Nghi thức hành lễ đầu
    ngày không quá dài, kết thúc bài kệ Hồi hướng trời vẫn
    chưa sáng hẳn.
    Trong chút nhờ nhờ ảo mị, ánh sáng ban mai quyện với
    sương, chỉ đủ để mắt nhìn ra tới cổng chùa, hai thầy trò tay
    nải bắt đầu chuyến đi. Đây là lần đầu tiên điệu Sanh được
    xuống phố cùng sư thầy. Một năm ở chùa, quen với cảnh ở
    đấy rồi, thành ra Sanh cũng không mấy nghĩ gì đến việc

    được đi tới những nơi ồn ào đông đúc. Vả lại, trong đầu
    Sanh, hình ảnh phố xá cũng là thứ xa xỉ mà thôi. Có thì tốt,
    không cũng chẳng sao, cái hứng thú đi phố hôm nay chẳng
    qua là tính hiếu kỳ trẻ con. Riêng sư thầy lại khác. Chuyến
    đi theo dự tính vỏn vẹn một ngày thôi nhưng thầy không
    muốn vô bổ. Mỗi bước đi của người tu hành đều phải có
    chơn niệm và mang lại chơn quả.
    Ý định đi xuống phố mới nảy sinh tối hôm qua, lúc thầy
    giảng bài cho điệu Sanh xong coi bộ hàn lâm quá, đành
    phải tiếp cận hiện thực, như cách giáo dục học đi đôi với
    hành. Lại nhớ lời dạy của đức Bổn sư trước khi nhập diệt đã
    nói với ông Tu Bạt Đà La, đại ý, con đừng có tin vào bất cứ
    ai cả, dầu đó là lời nói ra từ một đức giáo chủ, con hãy tin
    vào chính mình. Hòa mình vào cuộc sống ngoài kia cũng là
    một nhiệm vụ của người tu hành, để tìm được chân lý cho
    niềm tin vững chắc chứ không nhất thiết chỉ dựa vào kinh
    kệ pháp thư truyền lại. Một công đôi việc, đi để dạy cho
    điệu Sanh, cũng là để cho thầy tu tập.
    Quãng đường từ chùa xuống phố thả bộ chừng nửa tiếng.
    Mải ngắm cây cỏ ven đường nên thi thoảng điệu Sanh rớt lại
    phía sau thầy vài bước. Nắng bắt đầu lên. Sanh đi sau,
    giẫm chân chạm vừa đến cái bóng đổ chập chờn của sư
    thầy. Chợt nhớ có lần bị thầy quở vì trò giỡn bóng, điệu
    bước vội lên trước. Lát sau đã tới cái nơi cần tới.
    Phố hôm nay y như rằm thầy nhỉ? Sanh thốt lên một câu
    ngộ nghĩnh trước cảnh người xe ngược xuôi rộn ràng trên
    đường. Ở chùa, chỉ có rằm mới đông, mà cũng không đông
    như ngoài phố. Lui tới vẫn những khuôn mặt quen thuộc
    của đạo hữu và phật tử trong vùng thôi. Ngoài phố đúng là

    ngày nào cũng đông như rằm thật đấy, nhưng họ không dễ
    gì quen mặt nhau, mỗi giờ mỗi phút lườn lượt người qua
    quả là khó nắm bắt được vẻ hình. Nếu có gặp người quen
    chưa chắc kịp chào nhau một câu cho trọn vẹn.
    Một quãng đường vốn là nơi kẹt xe vào giờ tan sở, ùn lại,
    người sau đẩy người trước. Buộc phải đi. Gấp gáp thế nhưng
    chẳng tiến được là bao, thầy nhỉ? Thỉnh thoảng điệu Sanh
    lại hỏi những câu giản đơn khiến thầy băn khoăn. Hình như
    người ta buộc phải đi và sống theo kiểu đó. Ai cũng biết
    càng chen lấn chỉ tổ làm chậm vướng chân nhau, nhưng
    không ai chịu nhường ai vì không tin tưởng người kia cũng
    có ý thức nhường nhịn như mình. Thành ra cái lòng tin dần
    dần nhạt đi!
    Từ lề đường, thầy dắt tay điệu Sanh len hẳn vào giữa cái
    đám đông như ghim đinh nhau ấy. Những người cầm lái
    xung quanh thấy hai cái đầu trọc ngồ ngộ, nửa tò mò ngắm
    nghía nửa muốn nhường giới tu hành nên không lấn át nhau
    nữa. Có ý thức một chút rồi. Và họ đâu có ngờ rằng, mười
    mấy năm sau, tức vào cái thời điểm tác giả đang kể câu
    chuyện này, có một nhà sư thực hành nhất bộ nhất bái.
    Trên con đường quốc lộ xe cộ chạy như đua, hình ảnh một
    nhà sư thong dong chậm rãi đi một bước cúi xuống vái một
    lạy đã khiến nhiều tài xế lưu tâm mà giảm tốc độ cho.
    Đến ngã năm không có bùng binh, nhưng toán xe cộ đã vô
    tình cô lập hai thầy trò ở chính giữa, và tự dưng hai thầy trò
    hệt một cái bùng binh tưởng tượng cho từng loạt xe vo cua.
    Người vẫn xoáy quanh như quấy xô đa, đặc quánh lại. Có
    người lái xe chạy hết một vòng quanh hai thầy trò mà vẫn
    chưa tìm ra nghẽ ngách nào để rẽ về nhánh đường của

    mình. Thế đấy, đôi khi biết con đường đúng rồi mà không
    thể đi vào được, đành phải luẩn qua luẩn quẩn. Những biển
    báo chỉ dẫn đường đi chi tiết. Ai cầm lái đều có bằng, có
    hiểu luật giao thông. Song, không phải ai cũng tuân thủ.
    Vượt đèn đỏ, chạy ngược chiều, đi sai làn đường… Biết sai
    cả đấy, thế mà vẫn cứ liều. Có khổ không!
    Hai thầy trò đi thêm vài con phố nữa. Tuy không đông đúc
    như cái phố trung tâm. Đường có thưa hơn nhưng người ta
    phạm luật thì vẫn cứ. Thấy thưa thớt thì đánh võng, đua xe,
    hoặc không đua mà vẫn ráng bồ cóc ra chạy vút cái lèo.
    *
    Đứng giữa phố phường, tự dưng Sanh nhớ ngôi làng nhỏ bé
    của mình, nơi ấy Sanh đã sống mấy năm tuổi thơ trước khi
    vào chùa. Nhớ là vì hồi đó mấy đứa trẻ con trong xóm cứ ao
    ước được lên phố cho biết, nghe nói trên phố người ta giàu
    sang sung sướng lắm. Chả bù cho cái làng được bao quanh
    toàn đồng ruộng của mình.
    Bắt đầu mùa, nhà nhà dắt trâu ra đồng cày ruộng. Nắng
    trưa hành hạ người cày. Người cày cầm roi tre quất trâu đi,
    đứng đó mà thở đấy à? Đi! Đi! Giống cảnh người trên này
    húc bánh xe vào nhau mà thúc. Bóng người bóng trâu úp
    lên nhau trên mặt đất bùn lô hốc lô hiểm. Đến mùa gặt
    nắng lại càng to. Bà con mừng lắm vì nắng càng to phơi lúa
    càng sướng. Còng lưng đưa vằng vơ từng bó lúa. Bóng
    người bóng nón trải lên trên khóm chẹn lúa vàng. Phăng tay
    gặt luôn cái bóng. Điều này người ta rất kiêng kỵ, cũng phải
    làm thôi. Phang vằng rồi cái bóng vẫn ở trước mặt.
    Mấy đứa trẻ con rủ nhau đi tát cá ở những hố bom giữa
    đồng. Lấm la lấm lết bùn dính từ đầu xuống chân. Bắt được

    oi cá đem về cho mạ nấu ăn. Cả nhà mừng lắm. Nhưng ba
    lại buồn, nói tụi bay sau này đừng có ở làng này nữa. Cực!
    Kéo nhau lên phố mà ở cho sướng.
    Thì bây giờ Sanh đang đứng ở phố này, nghĩ bụng, phố
    cũng chẳng phải sướng đâu.
    *
    Về đến cổng chùa thì đã chiều muộn. Trời nhá nhem mờ mờ
    như hồi sáng ra đi. Ngày thứ nhất xuống phố, hai thầy trò
    chẳng quan sát được gì nhiều ngoài chuyện xe cộ. Chỉ
    chừng ấy thôi, ý thầy là để điệu Sanh thấy cái xô bồ tất bật
    của cuộc đời, cảm được cái khổ của sự đua chen chứ không
    phải đơn thần chỉ quan sát giao thông. Hơn nữa, bài học
    đầu tiên của chương trình thực hành là bài học về con
    đường. Người ta phải biết được con đường mình đi như thế
    nào đã rồi mới đi được. Sự tu tập cũng khó khăn như thế,
    và cũng cần có một con đường, không gì khác ngoài việc đi
    thẳng vào cuộc đời chẳng ngại lánh né.
    - Xuống phố một ngày con thấy được gì, điệu Sanh? Thầy
    hỏi khi hai người đã về tới vườn cây trước chùa, những
    mong điệu Sanh ngộ ra một cái gì đó để tự trả lời cho điều
    thắc thỏm tối hôm qua.
    Khi ấy, nắng đã tắt hẳn một cách chóng vánh. Trong bóng
    tối vườn chùa, điệu Sanh như nhìn thấy những mặt người lo
    âu khắc khổ hiện ra, chen lấn với lá cành. Riêng có một thứ
    ở trong chiều muộn này không thể nhận ra được. Và Sanh
    đem nó ra trả lời.
    - Dạ, con thấy dưới phố ai cũng đeo theo mình một cái bóng
    đen, cả thầy cũng có. Làm sao dứt được cái đó hả thầy?

    Lại thêm một câu hỏi khó cho thầy nữa rồi, đành hẹn bữa
    sau.

    S

    Đường Về Nẻo Thiền

    ớm nào cũng vậy, hễ sư thầy đánh thức điệu
    Sanh dậy để đi học là điệu lại làm biếng. Mùa
    thu ở miền cao này mỗi buổi tối hơi đá phả ra,
    đến tận lúc trời sáng ai cũng thèm trùm chăn
    ngủ thêm chút nữa. Điệu Sanh mắt ngái ngủ,
    cứ nằm ì ra. Có khi thầy phải xốc lấy hai nách điệu kéo ra
    khỏi mùng màn. Sanh khóa chéo hai chân lại, ưỡn thẳng
    người, gân cơ căng cứng, cố ý đừng để ai lôi mình dậy.
    Thầy vừa bồng điệu Sanh, vừa nhỏ nhẹ:
    - Dậy thôi con. Sáng trợt sáng trời rồi.
    Rồi thầy bế hẳn Sanh xuống khỏi giường. Khi hai chân điệu
    vừa chạm đất là thầy thốt lên “ui, xịch”.
    Hôm ấy là ngày tựu trường nên thầy đánh thức điệu Sanh
    dậy sớm hơn mọi ngày. Miễn cho điệu ấy việc tụng kinh đầu
    ngày. Thầy chỉ cử mấy hồi chuông rồi đi rửa mặt mày tay
    chân cho điệu Sanh. Lát sau Sanh đã tỉnh hẳn, quay sang
    nói với thầy:
    - Lát thầy dẫn con đến trường nghe thầy.
    - Ừ, thầy đưa con tới cổng thôi.
    Điểm tâm sáng xong, thầy lấy ra bộ áo quần lam mới. Bộ
    áo quần này do chị bán vải ở chợ tặng cho điệu Sanh nhân
    ngày chú ấy nhập học. Sanh mặc áo quần vào, ngửi mùi vải
    thơm, tự dưng thèm đến trường. Thầy lấy chiếc mũ xà cút
    tứ ân màu xanh lá mạ đội lên đầu Sanh. Ngắm nghía chú

    tiểu của mình. Trông cũng hay hay. Lần đầu tiên Sanh mới
    đội mũ chóp tứ ân nên điệu thấy hơi cấn cái, cứ ngúc ngoắc
    đầu rồi hỏi thầy sao gọi nó là mũ tứ ân. Thầy nói tứ ân là
    bốn ân lớn cần đặt lên trên đầu. Thứ nhất là ân cha mẹ, thứ
    hai ân thầy cô bạn bè, thứ ba ân quốc gia xã hội, và ân tam
    bảo nữa là thứ tư.
    Thầy khoác lên vai điệu Sanh chiếc túi xách may bằng vải
    lam bên trong đựng ba quyển vở với cây bút.
    - Chà, ra dáng học trò thư sinh dữ nghe. Gắng học con. Đến
    trường có bạn bè chơi vui lắm, nhưng đừng hoang nghịch.
    Đến trường phải nghe lời thầy cô.
    Sanh dạ, rồi hai thầy trò cùng men theo con đường mòn tới
    trường.
    Sanh không đi học lớp vỡ lòng, nhưng từ lúc vào chùa sư
    thầy đã dạy cho điệu toàn bộ bảng chữ cái. Nhờ vậy nên
    mới tới trường chưa đầy một tháng, Sanh đã ghép chữ đánh
    vần được. Vì thế điệu rất thích đọc, hễ gặp bất cứ nơi đâu
    có hình thù chữ cái là điệu dừng lại đọc cho bằng được mới
    chịu đi. Hôm đi học về, ngang qua một quán nhỏ nằm bên
    chân núi, Sanh đọc biển gỗ nhỏ màu xanh treo nơi thân
    cây. Bảng chữ hai câu xếp theo hai hàng. Hàng trên màu
    vàng ghi chữ: “Quán nhậu bình dân”. Phía dưới ghi: “Chùa
    cách 100 mét”, chữ màu trắng nhỏ hơn.
    Tấm biển này mới đóng lên cách đây mấy hôm. Đang mùa
    vu lan, biết khách thập phương tụ về chùa đông, đườn...
     
    Gửi ý kiến