BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

Hỗ trợ trực tuyến

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z5387891703871_5f022dd16e053afc4da98aa51ec94bfa.jpg Z5387891698387_09809a80e9b7fd5b7875ace3c4f5e75c.jpg Z5387891688339_cd51dc7e25f09e1404e7d8ebb3566604.jpg Z5387891687978_18205b9aad263ed88fc92d69b9eed298.jpg Z5387891684749_e6942c65d25b76278808b58882ceac91.jpg Z5387891677787_bfe65cb159419d57d153bb9667f4e8ef.jpg Z5387891670011_12bd1bb55d3fae2b5cb0b761a75bc920.jpg Z5451433185285_9dde2aae0b6f844e1fe7a8047d99b4e6.jpg Z5451433180363_b4aea03fdd1eeeaecf2e92dfc05afa75_1.jpg Z5451433179132_53a581227ed19418f28b3c54b201ed03_1.jpg Z5451433178408_3914729b1906c8c54ba3ff5e2aaf9b62.jpg Z5451433177453_ee0bd944c0e47b70d56dc22aa73dcebe_1.jpg Z5451433177239_2ea42a217e62f971436e20ed4d9cbbff_1.jpg Z5451433167027_dfa94985500756d123bdf860a66a23d7.jpg Z5451433165325_8356cab6958a1cb14e5c13d778dcde02.jpg Z5451433167027_dfa94985500756d123bdf860a66a23d7.jpg Z5451433164873_3a2284a76561caad17bd2df2288fec14.jpg TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Screenshot_1309.png Noi_vong_tay_yeu_thuong.png

    GIAI THOẠI LỊCH SỬ VIỆT NAM

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    19/5 - Sinh nhật Bác Hồ và những sự kiện lịch sử

    bỉ mật vũ trụ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
    Ngày gửi: 08h:53' 17-04-2024
    Dung lượng: 2.7 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    BÍ MẬT
    VŨ TRỤ

    TRẦN THOẠI LAN dịch

    BÍ MẬT
    VŨ TRỤ

    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    BÍ MẬT VŨ TRỤ
    TRẦN THOẠI LAN dịch

    Chịu trách nhiệm xuất bản : LÊ HOÀNG
    Biên tập

    : THANH LIÊM

    Bìa

    : VĂN MINH

    Sửa bản in

    : NGUYỄN TRUNG

    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
    161B, LÝ Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
    ĐT : 8444289 - 8465596 - 8446211

    BÍ MẬT VŨ TRỤ
    Không gian bao la, mênh mông của
    vũ trụ là điều mà con người khó thể
    hình dung được. Nếu ta lấy những sinh
    vật có mặt trên thế gian này, hoặc thậm
    chí khi lấy cả Trái đất so sánh với vũ
    trụ, chúng ta không khỏi kinh hoàng khi
    phát hiện rằng chúng ta nhỏ bé quá,
    mỏng manh quá…

    5

    CUỐI CÙNG TÔI CŨNG BẪY ĐƯỢC TRÁI ĐẤT
    Thế giới quan về vũ trụ cận đại của Copernic đã làm thay đổi
    tiến trình văn minh của loài người.
    Khi nhắc đến Thái dương hệ, hay khi đề cập đến cả vũ trụ bao
    la này, con người không thể không nhắc đến Trái đất. Bởi một lẽ,
    Trái đất trong suốt một thời gian dài từng được coi là một thành
    viên của Thái dương hệ, thậm chí còn được ngộ nhận là trung tâm
    của vũ trụ.
    Từ thời cổ đại, vũ trụ từng được miêu tả như một túp lều khổng
    lồ, mà trong đó bầu trời chính là đỉnh lều, mặt đất là đáy lều các
    6

    vì tinh tú như Mặt trăng, Mặt trời,
    các vì sao… treo trên đỉnh lều. Đây
    cũng chính là nguồn gốc ra đời của
    "thuyết túp lều vũ trụ", thậm chí vào
    thời bấy giờ, khái niệm Trái đất có
    hình cầu vẫn chưa xuất hiện, đây là
    thuộc tính chung của nền văn minh
    thời bấy giờ.
    Ngay đến túp lều vũ trụ đích thực
    có hình dáng thế nào cũng không
    được thống nhất, mỗi quốc gia có
    một cách miêu tả riêng của mình.
    Chẳng hạn, người Ấn Độ lại cho

    Người đã từng hình dung trái đất
    là một vùng đất phẳng, các vì
    tinh tú như: mặt trời, mặt trăng,
    các vì sao… vận hành trong khí
    quyển, phía trên là đỉnh lều.

    rằng vũ trụ nằm phía trên Trái đất, các chú voi khổng lồ cõng Trái
    đất trên lưng, kim qui cõng voi và rắn khổng lồ tạo thành một vòng
    tròn bao xung quanh...
    Tất cả những cách miêu
    tả kể trên gần giống như
    lối miêu tả trong thần
    thoại; phải mãi đến thế
    kỷ 2, trình độ mô tả vũ
    trụ mới được nâng lên và
    bắt đầu mang tính lý luận
    khoa học. Vào thời bấy
    Người Ấn Độ cho rằng Thiên Quốc nằm ở
    trên trái đất, Voi khổng lồ cõng trái đất, kim
    qui cõng voi còn rắn khổng lồ tạo thành một
    vòng tròn bên ngoài.

    7

    giờ tại một thành phố ở
    nước Hy Lạp cổ đã xuất
    hiện một nhân vật cực

    kỳ quan trọng trong lịch sử phát
    triển của ngành thiên văn thế giới.
    Ông là tác giả của quyển lý luận
    Thuyết địa tâm, một quyển sách
    có sức ảnh hưởng mãi đến 1000
    năm sau. Ông chính là Ptolemée.
    Tác phẩm tiêu biểu của ông là
    thuyết Đại tổng hợp, thuyết này
    giải thích sự vận hành của các
    thiên thể; ngoài ra ông còn vẽ hệ
    vũ trụ thành một biểu đồ toán học
    lôgic. Ông thừa nhận Trái đất có
    Bậc thầy vĩ đại của thiên văn học
    thời cận đại: Copernic.

    hình cầu, và Trái đất nằm ở vị trí
    trung tâm của vũ trụ, các thiên thể
    khác quay quanh Trái đất.

    Thuyết địa tâm của Ptolemée không may lại bị coi là lập dị và
    do đó bị lãng quyên vào thời đại đen tối của loài người; thay vào
    đó, giá trị vũ trụ quan mang tính thần thoại lại lên ngôi.
    Cùng với quá trình phát triển văn hóa lần I trong thời kỳ Phục
    hưng tại châu Âu, thuyết địa tâm của ông lại một lần nữa thấm sâu
    vào lòng người, chỉ tiếc có điều là thuyết địa tâm của Ptolemy mang
    nặng nội dung thần học về Thiên Chúa giáo; tư tưởng coi Trái đất là
    trung tâm vũ trụ đã trở thành một tư tưởng mang ý nghĩa tôn giáo,
    và vì vậy mà con người và tất cả các sinh vật tồn tại trên Trái đất
    đều được cho là đang nằm trong vòng tay của Thượng đế. Theo
    đó, Thượng đế nằm ở tầng ngoài cùng của vũ trụ, điều khiển sự
    vận hành của vũ trụ và bảo vệ cuộc sống an lành của nhân loại.
    8

    Và như thế thì mục đích vận hành của vũ trụ cũng là vì Trái đất,
    hướng ánh sáng đến những nơi có con người sinh sống. Ngoài ra,
    hệ vũ trụ của tôn giáo còn được chia đẳng cấp, trên trời thì cao quý,
    dưới đất là xấu xa, đê tiện.
    Tuy nhiên, "tuổi thọ" của thuyết địa tâm và thuyết địa tâm thần
    thoại hóa kết thúc khi một nhà thiên văn học vĩ đại khác xuất hiện.
    Đó là vào tháng 3 năm 1543, nhà thiên văn học khiếm thị người
    Ba Lan: Copernic cho xuất bản quyển sách có nhan đề: Thuyết
    vận hành thiên thể, ông vừa sờ quyển sách vừa nói với giọng xúc
    động "Cuối cùng tôi cũng đã bẫy được Trái đất". Chẳng may, hai
    tháng sau ông từ trần.
    Thuyết vận hành thiên thể là tác phẩm tiêu biểu cho thế giới
    quan về vũ trụ của thời cận đại, và chính nó đã khởi phát cho
    cuộc đại cách mạng thay đổi quan niệm về thiên văn học thời
    cận đại. Trong quyển sách này, Copernic mô tả cấu tạo của vũ
    trụ và quá trình vận động của Trái đất, và bác bỏ thuyết địa tâm
    học. Tóm lại, bức tranh toàn cảnh vũ trụ được Copernic mô tả
    như sau: Mặt trời đứng sừng sững nơi trung tâm vũ trụ, các hành
    tinh khác quay quanh Mặt trời. Hành tinh gần Mặt trời nhất chính
    là sao Thủy, kế đến là sao Kim, kế nữa mới là Trái đất. Mặt trăng
    quay quanh Trái đất và Mặt trăng cũng chính là vệ tinh của Trái
    đất. Hỏa tinh, Mộc tinh và Thổ tinh còn cách xa Mặt trời hơn là
    Trái đất. Ở phía ngoài quỹ đạo của các hành tinh có sự xuất hiện
    của các dãy ngân hà, các ngôi sao trong dãy ngân hà này luôn
    trọng trạng thái tĩnh.
    Bị giáo hội gây áp lực, quyển Thuyết vận hành thiên thể của
    ông bị cấm xuất bản trong một thời gian rất dài, mãi sau này khi
    9

    bạn bè của ông lén mang tập bản
    thảo in tại một thành phố của Đức
    thì quyển sách mới chính thức ra
    đời và nó đã thực sự làm ông toại
    nguyện.
    Những thay đổi về nhân sinh
    quan vũ trụ của ông có ảnh hưởng
    vô cùng sâu đậm lên nhiều tầng
    lớp nhân dân; chính vì điều đó mà
    giáo hội cảm thấy bất an. Sau đó,
    tất cả những nhà khoa học nào cổ
    xuý cho học thuyết của ông đều
    Nhà khoa học vĩ đại Galileo.

    phải trả giá rất đắt. Trong số đó nổi
    bật là hai nhà khoa học: Pluno và
    Galileo. Pluno, người Ý, là người

    trung thành theo đuổi đến cùng học thuyết của Copernic, bằng
    trái tim nhiệt tình đến cháy bỏng, ông đã ra sức truyền bá thuyết
    Nhật tâm học và qua đó truyền bá tư tưởng về một vũ trụ mênh
    mông bao la đến mức vô hạn. Chính cách nghĩ táo bạo, tinh thần
    phản bác dữ dội cùng với những bài diễn thuyết mang đầy tính
    thách thức, xúi giục đã thật sự khiến giáo hội hoảng loạn. Thế là
    từ năm 1576, Pluno, mới 28 tuổi, buộc phải bắt đầu cuộc sống lưu
    vong. Năm 1583, Pluno đến Luân Đôn. Năm sau, ông cho ra đời
    tác phẩm triết học kiệt xuất: Nguồn gốc, bản chất vũ trụ cùng với
    quyển Thuyết vũ trụ vô hạn và đa thế giới. Trong hai kiệt tác này,
    Pluno đã phát triển rộng ra học thuyết vũ trụ của Copernic, đồng
    thời đưa ra ý kiến riêng, đó là vũ trụ thì vô hạn, ông cho rằng Mặt
    10

    trời không phải là trung tâm của vũ trụ, theo ông, vũ trũ mênh mông,
    bao la quá nên nó chẳng có cái gì là trung tâm cả.
    Tư tưởng triệt để của ông đã khiến giáo hội phẫn nộ. Đến ngày
    23-5-1592, ông bị bắt tại Venise, Ý. Sau đó trải qua 7 năm đằng
    đẵng điều tra xét hỏi, Pluno vẫn một mực không chịu khuất phục,
    cuối cùng ngày 17-2-1600 ông phải lên giàn hỏa thiêu.
    Trong khi đó, Galileo, người được phong tặng danh hiệu "Cha
    đẻ của vật lý học cận đại", đã áp dụng một phương pháp khác để
    tuyên truyền học thuyết của Copernic. Ngày 7-1-1610, ông phát
    hiện sao Mộc có 4 vệ tinh, và ông tiên đoán chúng chuyển động
    quay quanh sao Mộc, và sao Mộc quay quanh Mặt trời. Phát hiện
    này đã làm khắp châu Âu kinh hoàng, đồng thời cung cấp bằng
    chứng hỗ trợ cho học thuyết của Copernic. Ngoài ra, nhờ quan

    Galileo phát hiện sao Mộc có 4 vệ tinh và tiên đoán chúng chuyển động
    quanh sao Mộc.

    11

    sát dải ngân hà mà Galileo đã biết được tính vô hạn của vũ trụ.
    Tương tự như trường hợp của Pluno, Galileo ngày càng trở thành
    cái gai trong mắt giáo hội năm 1616. Tòa án dị giáo của giáo hội
    quyết định điều tra và xét hỏi Galileo, đồng thời buộc ông phải từ
    bỏ học thuyết Copernic. Bị buộc phải đồng ý, nhưng ông vẫn kiên
    quyết viết quyển: "Về cuộc đối thoại giữa Ptolemée và Copernic.
    Sau đó vào tháng 3-1632, sách được phép xuất bản. Tuy nhiên
    vào tháng 8 năm đó, đột nhiên giáo hội ra lệnh cấm phát hành
    sách và cho bắt giam ông. Galileo tự biện hộ cho mình, nhưng
    hoàn toàn không cải thiện được gì. Thế là vào ngày 22-6-1633,
    ông bị tuyên phạt: tù chung thân. Sau khi nghe xong lời tuyên
    án, Galileo, lúc đó 70 tuổi, đã ngã quị xuống nền đất, vẻ mặt hốt
    hoảng và bấn loạn, ông bò ra song cửa, miệng còn lẩm bẩm: "Trái
    đất đang quay thật mà!".
    Khái niệm đương thời của Copernic đã đối lập với tư tưởng giáo
    hội và đả phá quan niệm của nhà vật lý học Aristotle cùng với
    những kiến thức thường thức về tâm lý của con người thời bấy giờ.
    Vì thế, học thuyết của ông không những bị giáo hội phản đối mà
    còn phải đương đầu với sự công kích quyết liệt của các nhà thiên
    văn khác trên thế giới. Phải đợi đến khi Newton phát hiện Định luật
    vạn vật hấp dẫn thì giới thiên văn học mới từ từ chấp nhận sự thật
    của thuyết Trái đất quay xung quanh Mặt trời.
    Newton, người phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn, là một
    nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại vào thế kỷ 17, đồng thời
    ông cũng là một trong những nhà khoa học hiếm hoi nổi tiếng trong
    lịch sử phát triển của cả nhân loại. Giữa năm 1665-1667, Newton
    dồn hết tâm trí để nghiên cứu lực hấp dẫn, ông cảm thấy thích thú
    12

    với vấn đề sau

    "quả

    táo chỉ rơi xuống đất mà
    chẳng bao giờ bay lên
    không". Trải qua nhiều
    cuộc nghiên cứu tỉ mỉ và
    chuyên sâu, năm 1686,
    Newton đã cho công bố
    một qui luật phổ biến của
    vũ trụ. Theo đó mỗi vật
    thể đều có lực hấp dẫn;
    khối lượng vật thể càng
    nặng thì lực hấp dẫn
    càng lớn, khoảng cách
    càng xa, lực hấp dẫn
    càng nhỏ đi. Đây chính
    là nội dung chủ yếu
    Dùng chiếc kính viễn vọng này, Newton đã
    phát hiện ra nhiều bí mật của vũ trụ.

    trong quyển kinh điển
    về cơ học của Newton.
    "Định luật vạn vật hấp

    dẫn", Định luật này đã đánh dấu kỷ nguyên quan trọng về cơ học
    đồng thời nó cũng được các nhà khoa học đương thời công nhận
    như sau: "Gần như tất cả bí mật của vũ trụ đã được đưa ra ánh
    sáng". Thật vậy, những khám phá của Newton không chỉ có giá trị
    trong ngành thiên văn học mà về phương diện vật lý học, toán học,
    ông cũng đã có những cống hiến vô giá.
    Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton đã mở ra một kỷ nguyên
    mới cho ngành thiên văn. Năm 1742, một người bạn của ông, nhà
    13

    Năm 1930, nhà thiên văn học 24 tuổi người Mỹ Clyde Tombaugh đã phát
    hiện ra sao Diêm vương.

    thiên văn học người Anh: Halley đã áp dụng định luật của Newton
    để tính toán và sau đó cho kết quả là: ước tính vào các năm 1759,
    1835, 1910 sẽ có sao chổi xuất hiện.
    Mười bảy năm sau ngày Halley mất, những tiên đoán này đã
    được ứng nghiệm chính xác: lần lượt vào các năm 1759,1835,1910,
    sao chổi của Halley đến hẹn lại lên. Năm 1781, nhà thiên văn học
    nghiệp dư người Anh gốc Đức, William Herschel đã phát hiện ra
    hành tinh Uranus (hành tinh thứ bảy của hệ Mặt trời), hay còn gọi
    là Thiên vương tinh. Năm 1846, Le Verrier, người Pháp và Adams,
    người Anh cùng lúc tính toán được vị trí của sao Neptune, hay còn
    gọi là Hải vương tinh mà khi đó con người chưa phát hiện ra nó. Sau
    đó Galle, nhà thiên văn người Đức, đã dùng kính viễn vọng phát
    hiện ra hành tinh này. Năm 1930, nhà thiên văn 24 tuổi người Mỹ
    14

    Clyde Tombaugh đã phát hiện ra
    sao Pluto, hay còn gọi là sao Diêm
    vương… Từ đó, các hành tinh chủ
    yếu của hệ Mặt trời lần lượt được
    công bố, và con người đã bước
    vào một giai đoạn hiểu biết về vũ
    trụ bằng những quan niệm hoàn
    toàn khác trước.
    Năm 1781, nhà thiên văn học nghiệp
    dư người Đức: William Herschel đã phát
    hiện ra Thiên vương tinh. Hình bên là
    hình phỏng lại theo trí tưởng tượng về
    sao Thiên vương từ góc nhìn của các
    vệ tinh của sao Thiên vương.

    Năm 1846, Le Verrier,
    người Pháp và Adams,
    người Anh đã tính toán
    được vị trí của sao Hải
    vương. Hình bên cũng là
    hình mƠ phỏng về Hải
    vương tinh.

    15

    Thuyết tương đối mô tả
    không gian dưới dạng
    cong, hình giữa dưới
    có cùng một cảnh của
    mình trên nhưng có giá
    trị biểu kiến.

    KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN CONG
    QUAN NIỆM VỀ VŨ TRỤ
    THUYẾT TƯƠNG ĐỐI

    16

    Có thể nói rằng, Newton với
    định luật vạn vật hấp dẫn đã mở
    một cánh cửa giúp loài người tiếp
    cận vũ trụ, thế nhưng người có
    công đưa ra ánh sáng tất cả bản
    chất tiềm ẩn của vạn vật lại chính
    là Einstein, tác giả của Thuyết
    tương đối. Ông đã xây dựng cho
    loài người một nhân sinh quan mới
    về vũ trụ đồng thời xác lập một nền
    Nhà khoa học vĩ đại nhất của thế
    kỷ XX Einstein.

    tảng lý luận cơ bản nhưng hết sức
    vững chắc. Chính vì lẽ đó mà ông
    đã trở thành nhà vật lý vĩ đại nhất

    của thế kỷ 20.
    Einstein gốc người Do Thái, sinh ngày 14-3-1879, tại Ulm, một
    thành phố nhỏ miền Nam nước Đức. Cũng như Newton, lúc bé học
    lực của Einstein chỉ vào hạng trung bình, thậm chí năm 4 tuổi, ông
    còn chưa biết nói, nhưng tất cả những chi tiết này không mảy may
    cản trở mức phát triển trí tuệ đến
    độ thiên tài của ông. Ngay từ năm
    16 tuổi, Enstein cứ suy nghĩ mãi
    về một vấn đề. Nếu một người di
    chuyển với tốc độ của ánh sáng
    thì anh ta sẽ thấy được cảnh tượng
    gì quanh mình? Và có phải lúc đó
    sóng điện từ sẽ ngưng chạy? Vậy
    thì trước hiện tượng này, điện học
    sẽ giải thích ra sao? Hàng loạt
    17

    Einstein trong không gian 4 chiều.

    Thuyết tương đối của Einstein cho chúng ta biết rằng thời gian và không
    gian đều bị bẻ cong.

    những nghi vấn đã tạo nên tiền đề cho ông viết bài: Thuyết động
    điện học của vật thể di chuyển động, sau này đã trở thành một quyển
    sách nổi tiếng khắp thế giới. Lần đầu tiên trong bài viết của mình,
    ông đề cập đến thuyết tương đối thu hẹp, ông giải thích mối liên hệ
    mang tính vận động giữa thời gian, không gian, khối lượng và vật
    chất. Thuyết tương đối thu hẹp của Einstein cho rằng: ở bất kỳ hệ
    qui chiếu nào thì các tia sáng truyền đi trong không gian tự do đều
    di chuyển với tốc độ tuyệt đối như nhau, và tốc độ ánh sáng là tốc
    độ lớn nhất trong số các vật thể chuyển động được. Hơn nữa, bất
    kỳ định luật tự nhiên nào cũng có thể áp dụng lên các hệ qui chiếu.
    Căn cứ vào hai nguyên lý này, Einstein rút ra một loạt các kết
    luận cho thuyết tương đối thu hẹp của mình: tính tương đối trong
    tính đồng thời, tính dài ngắn của khái niệm thời gian, khoảng cách
    xa gần của không gian, những thay đổi của chất lượng vật thể tuỳ
    theo tốc độ, mối tương quan giữa vật chất và năng lượng, vv… Năm
    1907, Einstein lại đưa ra một phương trình về mối liên hệ giữa vật
    18

    chất và năng lượng: E = mc2, trong đó E là năng lượng, m là khối
    lượng vật chất và c là tốc độ ánh sáng. Phương trình này cũng đã
    giúp giải thích hiện tượng bức xạ nguyên tố, giải phóng năng lượng
    và giải thích vấn đề nguồn năng lượng của Mặt trời.
    Năm 1916, Einstein lại cho ra đời Thuyết tương đối tổng quát.
    Trong thuyết tương đối tổng quát, ông tập trung giải thích bản chất
    và hiệu quả của lực hấp dẫn. Theo đó, thuyết này cho rằng do có
    sự tồn tại của vật chất, mà không gian và thời gian đều bị bẻ cong,
    và trường hấp dẫn cũng là không gian bẻ cong. Bước đầu thuyết
    tương đối tổng quát đã giải thích hiện tượng lệch pha trong quĩ đạo
    của sao Thủy, một hành tinh quay gần Mặt trời nhất nên chịu ảnh
    hưởng mạnh nhất. Tiên đoán quan trọng thứ hai của thuyết tương
    đối tổng quát chính là lực hấp dẫn hồng ngoại, nghĩa là quang phổ
    sẽ di chuyển hướng về vùng hồng ngoại trong trường hấp dẫn.
    Và điều này đã được minh chứng chính xác bởi các nhà thiên văn
    học bằng việc quan sát thiên văn. Tiên đoán thứ ba của Einstein
    là tia sáng sẽ bị bẻ cong khi đi ngang qua trường hấp dẫn. Tiên
    đoán này đã được rất nhiều người quan tâm, bởi lẽ tiên đoán ít ai
    ngờ tới này cuối cùng lại được chứng nghiệm bằng thiên thể của
    vũ trụ. Theo tiên đoán của Einstein: tia sáng của một hành tinh xa
    xôi truyền đến bề mặt Trái đất thì nó sẽ bị lệch một cung 1,75 giây.
    Năm 1919, hai nhóm kiểm tra người Anh đã quan sát và kiểm tra
    được cung lệch ấy trung bình là 1,79 giây, điều này cho thấy những
    tiên đoán của Einstein là hoàn toàn chính xác, và kết quả này đã
    làm rúng động toàn thế giới.
    Thuyết tương đối của Einstein được thiết lập trên cơ sở cải cách
    triệt để quan niệm về không gian thời cận đại, nó đã mang lại một
    cuộc cách mạng to lớn đối với học thuyết về cơ học kinh điển của
    19

    Đây là mô hình hệ mặt trời, gồm mặt trời và các hành tinh bao quanh. Dưới
    tác dụng của lực hấp dẫn, các tia sáng khi đi vào trường hấp dẫn đều bị lệch.

    Newton. Einstein đã có công kiến lập nên một khái niệm hoàn toàn
    mới về vũ trụ ở thế kỷ XX. Trong quá trình giải thích vũ trụ, thuyết
    tương đối đã đưa đến hai khả năng hoàn toàn ngược nhau: Thứ
    nhất, vũ trụ là hữu hạn, nó cũng như một tinh cầu, nếu cứ đi mãi
    về một hướng, cuối cùng chúng cũng về đến điểm xuất phát; Thứ
    hai, vũ trụ là vô hạn, nó tỏa ra rất nhiều hướng đi, cho dù đi mãi đi
    mãi cũng chẳng đến đích. Còn vấn đề khả năng nào có tính logic
    hơn thì theo như lời giải thích của Einstein, vị bác học thông minh
    hơn người, ông nói: Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng
    nhiều hay ít của vật chất có trong vũ trụ. Nếu vật chất tồn tại trong
    vũ trụ nhiều thì lực hấp dẫn của chúng sẽ làm cho các góc cong
    trong không gian kết dính lại và khi đó vũ trụ sẽ hữu hạn. Từ đầu
    thế kỷ XX đến nay, nhiều nhà khoa học đã thử chứng minh một
    trong hai khả năng này, nhưng dường như từ những năm 60 trở về
    20

    sau của thế kỷ XX, các nhà thiên văn học muốn chứng minh một
    điều rằng số lượng vật chất trong vũ trụ không đủ nhiều để tạo
    thành lực hấp dẫn khép kín.
    Từ những năm 30 của thế kỷ XX, Einstein đã bắt đầu nghiên
    cứu lý luận trường nhất quán trong mọi hình thức vận động của vũ
    trụ, nhưng cuối cùng ông cũng chưa vừa ý.
    Ngày 18-4-1955, ông từ trần tại nhà riêng ở Princeton (Mỹ).
    Mười mấy năm sau ngày ông qua đời, hàng vạn nhà khoa học
    đã bước tiếp con đường ông đi, họ đã dày công khám phá bí mật
    của vũ trụ, nhưng mãi cho đến nay vẫn chưa cho ra đời học thuyết
    nào tiến bộ hơn thuyết tương đối của einstein, và lẽ dĩ nhiên cũng
    chưa đưa con người tiến sâu hơn nữa vào các nấc thang bí mật của vũ
    trụ, tất cả cũng chỉ dừng lại ở những phát hiện của Einstein mà thôi.

    Thuyết tương đối của Einstein đã mở rộng tầm nhìn cho loài người, giúp
    chúng ta hiểu biết nhiều hơn về vũ trụ.

    21

    Người kế tục sự nghiệp của Einstein là một nhà vật lý học nổi
    tiếng nhất của thế kỷ XX Stephen Hawking, ông từng bác bỏ khá
    quyết liệt công thức toán học của Einstein. Hawking tốt nghiệp
    Đại học Oxford, sau đó ông lấy được học vị tiến sĩ triết học tại đại
    học Cambridge. Năm 20 tuổi, đột nhiên ông mắc phải chứng bệnh
    xơ cứng và co rút các cơ. Thông thường, những người mắc chứng
    bệnh này đều qua đời ba năm sau ngày phát bệnh. Tuy nhiên có
    lẽ đây là trường hợp hi hữu ông vẫn tiếp tục sống. Mặc dù trên cơ
    thể ông chỉ còn có 3 ngón tay cử động được; nhưng điều đó cũng
    không mảy may cản trở ông trở thành nhà khoa học vĩ đại thừa kế
    học thuyết của Einstein.
    Hawking nghiên cứu chủ yếu về vũ trụ và thuyết tương đối tổng
    quát. Trong quyển Kết cấu không gian qui mô lớn do ông và một
    nhà khoa học khác là đồng tác giả, ông đã phê bình phương pháp
    xử lý lực hấp dẫn của thuyết tương đối tổng quát. Theo đó, ông cho
    rằng lối lý luận của Einstein hoàn toàn không thể giải thích được
    một số hiện tượng kỳ lạ đang tồn tại trong vũ trụ. Theo hai ông,
    trong số đó nổi lên hai hiện tượng: Thứ nhất đó là khi các dải ngân
    hà bị vỡ hoặc co rút thành lỗ đen và thứ hai là những hiện tượng
    khởi đầu vủa vũ trụ. Chính vì vậy, Hawking được coi là cha đẻ của
    thuyết hấp dẫn lượng tử.
    Hawking nổi tiếng nhất trong công trình nghiên cứu về lỗ đen.
    Năm 1974, bằng toán học, ông đã chứng minh rằng lỗ đen không
    "đen", mà thật ra nó không ngừng truyền các hạt phân tử ra ngoài
    với một tốc độ ổn định. Phát hiện của Hawking đã thật sự mở ra
    một chân trời mới cho lĩnh vực nghiên cứu vật lý học về thiên thể.
    Ngay từ năm 1796, nhà toán học kiêm nhà thiên văn học người
    Pháp Lagrange từng tiên đoán: "một nơi có mật độ như Trái đất
    22

    mà đường kính bằng tia sáng của 250 dải ngân hà của Mặt trời
    sẽ không cho phép bất kỳ tia sáng nào rời khỏi nó". Chính vì lý do
    này mà chúng ta không thể nhìn thấy thiên thể phát sáng lớn nhất
    trong vũ trụ.
    Một trăm năm sau, thuyết tương đối một lần nữa khiến nhà thiên
    văn học người Đức phải đưa ra tiên đoán mới: ông cho rằng lỗ
    đen là một thiên thể có dạng cầu, không quay và không dẫn điện.
    Điều kiện để cấu thành lỗ đen là tỉ lệ giữa khối lượng và bán kính
    của thiên thể tương
    đương 67.500.000
    tỉ gram-mm, chính
    do có lực hấp dẫn
    mạnh nên tia sáng
    và tất cả các vật chất
    khác không thể tránh
    khỏi bị lực hấp dẫn
    tác động lên. Trước
    mắt, những kiến thức
    phổ thông nhất về lỗ
    đen chính là lỗ đen
    là vùng không gian
    có lực hấp dẫn mạnh
    nhất; do đó bất cứ vật
    nào tiếp cận nó, kể
    cả tia sáng đều bị hút
    vào các lỗ sâu hun
    hút đó và không thể
    thoát ra ngoài được.

    Người kế tục Einstein: Stephen Hawking. Toàn
    thân ông chỉ còn 3 ngón tay là có thể cử động
    được.

    23

    Hai nhà thiên văn học người Mỹ đã dùng máy tính vẽ ra một tinh
    cầu có kích cỡ tương đương với Mặt trời và thử cho nó rơi vào lỗ
    đen. Kết quả là lỗ đen đã dùng hai cách "nuốt chửng" lấy tinh cầu.
    Theo đó, cách thứ nhất, khi tinh cầu đó di chuyển hướng về lỗ đen
    thì nó lập tức bị lực hấp dẫn của lỗ đen kéo dài ra, và biến nó thành
    một chùm tia vật chất hút tọt vào lỗ đen, đồng thời nó phát ra khối
    năng lượng khổng lồ. Cách thứ hai: khi tinh cầu rơi vào trường hấp
    dẫn của lỗ đen, thì lớp vật chất trên tinh cầu sẽ hình thành một kết
    cấu dạng đĩa bao xung quanh lỗ đen, và khí thể và bụi sẽ quay
    xung quanh lỗ đen theo quĩ đạo, sau đó mới bị hút vào trong lỗ đen.

    Đây là lỗ đen được mô tả bằng máy tính, ảnh lớn là tinh cầu bị xoáy vào lỗ
    đen. Trong quá trình bị cuốn vào, chúng thường thay đổi về kích thước, hình
    dạng. Hình bên trái là ảnh ảo của tinh cầu to bên phải.

    24

    Các nhà thiên văn học suy đoán rằng, trung tâm của dải ngân
    hà rất có khả năng tồn tại một lỗ đen.
    Ngày 27-2-1994, kính viễn vọng không gian đã chụp được ảnh
    dải tinh cầu Tiên nữ M87, và họ đã phát hiện ở giữa các tinh cầu
    này xuất hiện một lớp khí dạng đĩa giống như lớp mây trên trời và
    đang xoay dữ dội như trong một cơn lốc. Phần lớn các vật chất của
    lớp "mây" dạng đĩa này là lớp khí hydrô dạng ion ở nhiệt độ khoảng
    10.0000C. Theo kết quả tính toán thì khu vực trung tâm của lớp
    hình đĩa này tồn tại một lớp tương đương 3 tỉ Mặt trời, trong khi đó
    thể tích của nó lại nhỏ hơn thiên thể của hệ Mặt trời. Căn cứ vào
    đó, các nhà thiên văn học bắt đầu phân tích, kết quả họ đều thống
    nhất rằng trong thiên thể này có một lỗ đen xuất hiện ở trung tâm
    của dải ngân hà.
    Những tinh cầu có khối lượng lớn thì sẽ biến thành lỗ đen, và
    có tất cả mọi vật chất kể cả những vật chất phát sáng cũng có xu
    hướng rơi vào lỗ đen. Cũng chính vì trọng lực ở lỗ đen lớn vô cùng,
    cộng thêm tình trạng hỗn loạn trong kết cấu của không gian nên
    các nhà khoa học đã không thể xác lập nguyên tắc vật lý nhất định
    cho nó, vì thế nó được gọi là "điểm kỳ lạ". Tuy nhiên, Hawking và
    người đồng tác giả của ông đã chứng minh sự tồn tại của lỗ đen.
    Hơn nữa, bằng các phương trình toán học, Hawking đã chứng minh
    được rằng "điểm kỳ lạ" này đã tồn tại ngay từ thời kỳ đầu của vũ
    trụ. Nếu xét riêng cái "điểm kỳ lạ" này trong vũ trụ thì chắc chắn
    nó sẽ gây ra nhiều nguy cơ bùng nổ vũ trụ. Chính vì vậy mà nhiều
    nhà vật lý đã cố sức tìm phương án để những "điểm kỳ lạ" này thôi
    xuất hiện. Tuy nhiên, Hawking lại chứng minh sự tìm kiếm này là vô
    ích, bởi lẽ những nguy cơ bùng nổ, biến mất của vũ trụ là những sự
    kiện mà con người không thể không đối mặt. Nhưng nói thế không
    25

    phải cho rằng vũ trụ được sinh ra từ "điểm kỳ lạ", trên thực tế "điểm
    kỳ lạ" chính là thế giới riêng mà khoa học của loài người chưa thể
    tiếp cận được, hay nói cách khác nó là điểm giới hạn của khoa học.
    Về mặt lý luận, Hawking một mực ra sức kết hợp thuyết lượng
    tử của ông với thuyết tương đối của Einstein, đây cũng là quá trình
    nghiên cứu mà Einstein chưa đạt được kết quả. Trước mắt, những
    kết quả nghiên cứu vũ trụ của Hawking đã thật sự gây chấn động
    thế giới, tuy nhiên chúng vẫn chưa được hoàn toàn thừa nhận.
    Trên con đường nghiên cứu vũ trụ, Hawking luôn lẻ loi, bởi
    lẽ rất ít người đủ kiên nhẫn tiến hành những nghiên cứu sâu sắc
    hơn nữa về vũ trụ trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Không gian
    bao la, mênh mông của vũ trụ luôn ẩn chứa nhiều bí mật mà con
    người khó mà giải thích. Cũng có thể những hiểu biết có hạn của
    chúng ta ngày nay về vũ trụ biết đâu lại hoàn khác với trạng thái
    thật của vũ trụ thì sao. Tuy nhiên, lòng nhiệt tình, tính kiên nhẫn
    của Hawking chắc chắn sẽ mang đến nhiều kết quả giúp con
    người nâng cao trình độ nhận thức về vũ trụ mà trước nay chúng
    ta chưa hề đạt được.

    26

    KHOẢNG KHÔNG BAO LA
    Khi nhắc đến vũ trụ, con người không thể không cảm ơn những
    chiếc kính viễn vọng khổng lồ. Chính những chiếc kính này đã mở
    rộng tầm nhìn của con người về vũ trụ. Như chúng ta biết, từ thời
    cổ đại, con người luôn quan niệm rằng vũ trụ chẳng qua chỉ là một
    không gian nào đó ở sát gần họ.

    27

    Ngày nay, con người đã
    thuộc nằm lòng những vùng
    không gian lân cận quê hương
    - Trái đất mà họ đang sống.
    Trái đất gần như có dạng hình
    cầu, hơi dẹp ở hai đầu. Chu
    kỳ tự quay của Trái đất là một
    ngày; Trái đất cùng với những
    Hình chụp thẳng đứng của dải ngân hà.

    hành tinh khác trong hệ Mặt
    trời quay xung quanh Mặt trời.
    Quĩ đạo quay của Trái đất và

    các hành tinh khác là một đường ê-líp, bán kính trung bình là 150 x
    106 km, tốc độ quay trung bình đạt 30.000 m/giây. Khối lượng Trái
    đất khoảng 6 x 1021 tấn.
    Mặt dù Trái đất to lớn là thế nhưng nó cũng chỉ là một thành viên
    hết sức bình thường trong hệ Mặt trời.
    Trong hệ Mặt trời thì Mặt trời là trung tâm, là cái lõi. Kỳ thực,
    Mặt trời chẳng qua chỉ là một khí thể hình cầu có thể tự phát sáng,
    đường kính vào khoảng 1,4 x 106 km. Khối lượng của Mặt trời bằng
    140 lần tổng khối lượng của tất cả các hành tinh khác trong hệ Mặt
    trời. Chính vì "khổng lồ" như thế Mặt trời mới có lực hấp dẫn mạnh
    vô biên, nhờ vậy nó mới có thể điều khiển chặt chẽ mọi hoạt động
    của các hành tinh hay thiên thể nhỏ trong trường hấp dẫn của nó,
    và đủ sức co cụm các thành viên trong hệ Mặt trời lại với nhau.
    Thứ tự các hành tinh ở gần Mặt trời nhất là: sao Thủy, sao
    Kim, Trái đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên vương, sao
    Hải vương và sao Diêm Vương. Ngoài sao Thủy và sao Kim thì
    tất cả các hành tinh khác đều có vệ tinh, chẳng hạn Mặt trăng
    28

    chính là vệ tinh của trái đất. Ngoài ra giữa quĩ đạo của sao Hỏa
    và sao Mộc còn nhiều hành tinh nhỏ khác. Hầu như tất cả các
    hành tinh đều quay quanh Mặt trời trên cùng một bề mặt. Trong
    hệ Mặt trời, chúng ta không những có các hành tinh, tiểu hành
    tinh và vệ tinh của các hành tinh, mà chúng ta còn có vô số sao
    chổi, sao sa, sao băng. Khoảng cách giữa Trái đất và Mặt trời
    khoảng 150.000.000 km và khoảng cách này thường được gọi
    là một đơn vị thiên văn (hay năm ánh sáng), đây là thuật ngữ
    của ngành thiên văn học.
    Tốc độ di chuyển trung bình mỗi giây của ánh sáng là 300.000
    km, mỗi năm ánh sáng đi được khoảng 9,46 x 1012 km và con số
    này được gọi là một năm ánh sáng và từ đó nó được đặt cho đơn
    vị không gian của vũ trụ.
    Còn những thiên thể nào có khả năng tự phát sáng được như
    Mặt trời thì được gọi là các tinh tú, cách gọi như vậy là để phân biệt
    với những hành tinh không tự phát sáng được.
    Nhiều tinh tú kết hợp lại với nhau tạo thành dải ngân hà. Ở giữa
    dải ngân hà thì dày, hai bên mỏng dần, đường kính khoảng 100.000
    năm ánh sáng, trong đó chứa vài trăm tỉ tinh cầu.
    Tuy nhiên, dải ngân hà không phải chứa hết tất cả mọi tinh tú,
    mà bên ngoài dải ngân hà chúng ta còn thấy có sự tồn tại của các
    dải thiên hà, trong đó gần dải ngân hà nhất chính là dải sao Tiên
    nữ, dải này cách Trái đất 2.200.000 năm ánh sáng. Đây cũng chính
    là dải thiên hà xa nhất mà con người có thể dùng mắt thường quan
    sát. Theo ước tính, những tia sáng do sao Tiên nữ phát ra và đến
    Trái đất hôm nay đã được truyền đi từ 2.200.000 năm trước, do đó
    những phát hiện của chúng ta ngày hôm nay đều là những sự kiện,
    29

    bối cảnh xảy ra trong quá khứ.
    Điều này chứng tỏ rằng càng
    khám phá ra nhiều điều, nhiều
    sự kiện thì các sự kiện ấy càng
    xa xưa lỗi thời.
    Các nhà thiên văn học cũng
    phát hiện rằng nếu coi dải ngân
    hà là trung tâm thì trong vòng

    cụm siêu tinh của sao Tiên nữ

    chu vi 3.000.000 năm ánh sáng

    có khoảng 40 thiên hà giống dải ngân hà, và các thiên hà này kết
    lại thành một quần thể thiên hà. Các thiên hà trong quần thể này
    liên kết rời rạc với nhau, chúng không có kết cấu, tổ chức và phần
    lõi như dải ngân hà. Tuy nhiên trong quần thể thiên hà cũng tồn
    tại một số trung tâm tập hợp các thiên hà lại với nhau, và những
    trung tâm đó được gọi là cụm thiên
    hà; ngoài ra cụm thiên hà kết hợp
    với quần thể thiên hà tạo thành
    cụm siêu tinh và kích thước của
    chúng vào khoảng 300 triệu năm
    ánh sáng.
    Cho đến nay, các nhà thiên văn
    học đã phát hiện một dải ngân hà
    cách Trái đất 11.900 triệu năm
    ánh sáng, dù vậy thiên hà này vẫn
    chưa phải là điểm dừng của vũ trụ.
    NGC 2300 là một quần thể thiên
    hà xa xôi.

    30

    VỤ NỔ VŨ TRỤ

    31

    Theo suy đoán của các nhà
    thiên văn học, kích thước không
    gian của vũ trụ vào khoảng 20 tỉ
    năm ánh sáng, điều này chứng
    tỏ rằng vũ trụ đã 20 tỉ tuổi rồi, và
    hiện đang "sống" ở giai đoạn nào
    trong cuộc đời của nó thì chúng ta
    không biết. Ngày nay theo lý luận
    được khá nhiều người chấp nhận
    là thuyết Big Bang, tương truyền
    Quan sát bằng quang phổ đã
    chứng thực một điều: các thiên hà
    rằng vũ trụ được sinh ra sau một
    càng rời xa Trái đất càng di chuyển
    vụ nổ cách đây 20 tỉ năm. Sự kiện
    với vận tốc lớn.
    nổ vũ trụ đã đặt nền tảng cho một
    sự thật quan trọng sau: số là các nhà thiên văn học phát hiện, hầu
    như tất cả các thiên hà đều tránh né nhau và di chuyển với vận
    tốc rất cao, có nghĩa là cả vũ trụ cứ như gợn sóng, và những đợt
    sóng cồn này lại không có điểm nào là trung tâm cả; vì thế nhìn
    từ bất kỳ góc độ nào ta cũng có thể thấy các thiên thể đang rời
    xa chúng ta. Có điều thú vị là, càng cách xa, tốc độ của chúng
    càng lớn.
    Thuyết nổ vũ trụ cũng chứng minh một điều rằng mỗi giờ mỗi
    giây cả vũ trụ đều ở trong trạng thái sôi sục và biến hóa. Nếu
    chúng ta đi ngược dòng thời gian càng xa thì vũ trụ lúc đó càng
    nhỏ, cũng giống như một quả bong bóng bị xì, càng về sau nó
    càng bị thu nhỏ và cuối cùng chỉ còn là một điểm. Vậy thì, 20 tỉ
    năm trước, cũng có thể vũ trụ chỉ nhỏ như một dấu chấm. Nhưng
    còn trước đó thì sao?
    Nếu dùng những hiểu biết và lý luận mà chúng ta hiện có để
    giải thích hiện tượng này sao cho logic là điều cực khó. Tuy nhiên
    có một lối giải thíc...
     
    Gửi ý kiến